Announcement

Collapse
No announcement yet.

Greenland Cruise 2026

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Greenland Cruise 2026

    Greenland Cruise 2026​​​​​​




    HT rất tiếc chưa post được hình để minh họa cho bài viết vì 'error' khi post tuy đã thử qua nhiều cách.






    ​
    Bạn đọc thân mến,

    Từ giữa tháng Bảy tới cuối tháng Tám 2026 vừa qua, HT có chuyến đi Legendary Cruise '
    Voyage of the Vikings: 35-Day Solar Eclipse Cruise', 35 ngày 'roundtrip' từ Boston - Massachusetts, với hãng HAL (Holland America Line) tới miền Đông Bắc của Canada, Greenland, Iceland, Norway, và UK, nhưng phần chính của chuyến đi là Greenland - hải đảo lớn nhất trên trái đất này, cũng là nơi thưa người ở nhất vì nó gần tuốt trên Bắc Cực, giá lạnh quanh năm. Chuyến này Zuiderdam dừng ở Rekjavik - Iceland và Rotterdam - Holland, mỗi nơi hai đêm.

    Từ Austin - Texas, HT lấy chuyến bay đến Boston và ở đó vài hôm trước khi đi 'cruise'. Boston thì đã ghé đến vài lần, kỳ này vẫn ở hostel Boston vì khách sạn trong trung tâm thành phố rất mắc. Từ phi trường, bạn lấy 'Silver Line 1' là chuyến xe bus đi từ phi trường tới 'city center' và trạm cuối là 'South Station', bận vô phố 'free', bận ra thì trả tiền. Các chuyến 'metro' hay bus ở Boston trả bằng 'credit card' nên rất tiện lợi.

    Đối diện với HI Boston Hostel là tiệm phở Pasteur và tiệm bánh mì Hương Quê, HT thường ghé qua mua bánh mì và cà phê sửa đá, rất ngon, 8 đô, rẻ hơn ở Austin! Bà chủ quán chỉ đường tới khu VN nhưng HT chưa có dịp để tới đó.

    Kỳ này HT lấy 'subway' tới trường đại học danh tiếng MIT (Massachusetts Institute of Technology), họ có 'free tour', nên biết thêm nhiều điều lý thú về học trình của MIT, năm nay sinh viên ban Cử nhân 4,500, còn ban Cao học 6,500 (40% undergrade, 60% grad), học vấn miễn phí cho gia đình có lợi tức dưới hai trăm ngàn. Các phân khoa ở MIT thiên về các ngành Kỹ thuât, Khoa học, Toán, Lý, Hóa, Điện, Điện tử , Kinh tế ... 'Motto' của MIT tiếng Latin là Mens et Manus, tiếng Anh là Mind and Hands. Thưở ban đầu, trường chú trọng việc giảng dạy trong phòng thí nghiệm, dưạ trên mô hình viện đại học bách khoa ở Âu châu (polytechnic university), để đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hoá thuở ban đầu của Hoa Kỳ. MIT thành lập chỉ được vài ngày thì cuộc Nội chiến ở Mỹ bùng nổ (Civil War 1861), thế nên bốn năm sau, khi Nội chiến chấm dứt trường mới mở được lớp đầu tiên vào năm 1865. Các 'campus' của MIT không có những kiến trúc cổ xưa như HT thấy ở Yale, Columbia, hay Harvard..., trái lại các 'building' trông rất hiện đại.

    HT cũng ghé tới BC (Boston College) là một đại học tư thục công giáo danh tiếng của Mỹ, thuộc Dòng Tên (Society of Jesus (Jesuits)). BC được thành lập cách đây khoảng 150 năm, chuyên về nghiên cứu. Trường có kiến trúc 'gothic' giống nhà thờ vì là trường công giáo.

    Sáng ngày đi 'cruise', HT trả phòng cho HI Boston Hostel và lấy Uber ra bến cảng và tới phòng lúc vưà vặn giờ ăn trưa ở Lido. Zuiderdam thì đã có lần đi chuyến cruise ở Panama Canal cách đây chục năm. Chuyến này, tàu có 1,900 khách, Mỹ chiếm 1,800, Canada: 93 người, Úc: 34 người. Zuiderdam chưá maximum 2,300 khách, nên coi như gần đầy tàu. Phần lớn là người da trắng (>80%), vài cặp da đen, vài chục cặp Á Đông, tuổi 60-70, hầu hết đã hưu trí. HT gặp được vài gia đình VN nhưng không có dịp ăn chung vì họ ăn trên MDR. Gia đình chị Trâm, anh Trí và vợ là Laurie ở Little Sài Gòn qua Mỹ hồi 1975. Anh Đường và vợ người Phi ở San Diego qua Mỹ du học 1972. Chị Thu và chồng Mỹ là Bill ở Detroit - Illinois. Nghe nói có chị Lan và chồng Mỹ là dân ở Austin - Texas mà HT không gặp được dù chuyến đi dài năm tuần, âu cũng là cái duyên. Tất cả đã nghỉ hưu và thuộc hàng 'elite' vì họ đi cruise rất nhiều từ 30 năm nay!

    Tàu có 'promenade' ở deck 3, HT ở deck 4 (4148) 'inside stateroom', phòng nhỏ nhưng có đủ mọi thứ cho mình cần, gần cuối tàu, rất tiện. Theo thuyền trưởng thì từ giờ về sau, HAL sẽ không mở phòng giặt sấy trên các chuyến 'cruise' cho khách dùng nưã. Chẳng sao. HT tự giặt đồ mình trong phòng.

    Thức ăn thì tương tự như những chuyến 'cruise' khác. HT không ghi tên ăn trên Main Dining Room, nhưng có hai tối ăn trên đó do cặp vợ chồng Mỹ-Hoa quen trên tàu rủ lên đó ăn với họ để nói chuyện cho vui, còn lại toàn ăn ở Lido vì mình muốn ăn lúc nào, ngồi đâu, cũng được. Bánh ngọt và 'cookies' HAL không ngon bằng Princess. Thức ăn HAL múc cho khách, chứ không để mình tự lấy. HT ăn theo kiểu của mình giống ở nhà nên không bị ớn, chỉ thèm canh sau bữa ăn. Thế nên hôm nào, T thấy quầy 'Asian' có nồi nước lèo là vui lắm, kêu họ bỏ rau cải vào tô, xào cho nóng rồi chế 'miso soup' hay 'chicken broth' vào tô hay cho thêm một ít 'ramen', cơm là khỏe re!

    HAL có 'show' trên 'World Stage' lúc 6:30pm và 8pm. Các chương trình ca vũ nhạc, kể chuyện vui, ảo thuật... đều hay nên tối nào cũng coi. Ban ngày, những hôm tàu 'at sea', HAL có nhiều chương trình 'Enrichment Talk', 'Port Talk', 'A Day in the Life of a Crew', 'Tech Traveler'..., với nhiều đề tài thú vị nên HT thường phải lên hội trường giữ chỗ trước cả nửa tiếng vì nếu tới trễ sẽ không còn chỗ ngồi.

    Đôi lúc có dịp nói chuyện với những người làm trên tàu mới biết nhân viên làm ở Lido như 'food service', 'waitstaff', họ làm 10-12 tiếng một ngày và ngày nào cũng làm (7 days a week), vậy mà lúc nào cũng tươi cười, nhã nhặn với khách. Họ nói với HT: 'Every day is Monday.' Những hôm tàu cặp bến (at port), họ có vài giờ để ra phố nếu cần, và thay phiên nhau, còn lại họ nói ở lại trên tàu để ngủ cho khỏe. Người làm phòng thì hai người được giao khoảng 20 phòng, ngày làm hai lần, sáng chiều. HT nói họ làm ngày một lần cho phòng mình, hôm nào thấy họ bận quá thì T nói khỏi làm phòng cho mình. Nhân viên trên tàu có hai nhóm chính là 'staff' và 'crew', từ nhiều quốc gia khác nhau. HT thấy HAL và Princess thường mướn người Nam Dương hay Phi luật Tân làm việc trên tàu. HT học được vài tiếng chào hỏi từ hai nhóm người này:

    Nam Dương (Indonesia): Hello: Halo, Goodbye: Dadah (đa-đà), Thank you: Terima Kasih: Tri-má ca-xi, You're welcome: sama-sama
    Phi luật Tân (Filipino): Hello: Kamusta, Good morning / Beautiful morning: Magandang Umaga, Thank you: Salamat
    ~ 0 ~​
    Last edited by TrucLam; 09-04-2026, 09:12 AM.

  • #2
    Greenland




    Bến đầu tiên Zuiderdam ghé tới là Portland - Maine, HT chỉ đi loanh quanh trong phố chứ không lấy 'excursion'. Sau đó tàu đi một ngày đường biển trước khi cặp vào Sydney thuộc tỉnh bang Nova Scotia - Canada, bến này HT có tới trong chuyến cruise hồi năm ngoái. Corner Brook là một phố nhỏ nằm trong tỉnh bang Newfoundland Labrador - Canada. Sau đó là Red Bay - Labrador cũng là phố nhỏ không có port nên cruise phải 'tender' vào, có điều mấy hôm đó, trời mù sương, mưa gió sụt sùi và biển động nên tàu không vô được.

    Chuyến đi 35 ngày từ 15 tháng Bảy đến 22 tháng Tám này, thuộc loại 'Legendary cruise' của HAL vì tàu ghé vào những vùng đất xa xôi hẻo lánh ít người lui tới (Greenland) và đi theo hải trình của 'Viking' khi xưa vượt đại dương đi tìm đất mới. Thêm vào đó, vào khoảng giửa tháng Tám có Nhật thực toàn phần khi tàu ở gần Iceland và Greenland, họ sẽ đưa tàu vào vùng (path) này để bà con coi. HT chọn chuyến đi này vì những lý do trên, roundtrip từ Boston nên không phải tốn thêm tiền vé máy bay (xài points), và những lần 'at sea' tối đa là hai ngày.

    Sau những bến ở Canada, tàu bắt đầu vào Greenland, có ba bến tàu sẽ ghé vào: Paamiut và Nanortalik bận đi và Qaqortoq bận về (đọc là Ka-kor-tok, chữ q đọc với âm k), tất cả nằm phiá Nam của đảo Greenland và sẽ vào bờ bằng 'tender'. Thêm vào đó tàu sẽ thả trôi trong Prince Christian Sound (or Sund), qua những vùng núi non sát hai bên bờ, thác ngàn, băng hà, băng sơn xung quanh, nước trong màu ngọc thạch, cảnh đẹp tuyệt vời, có nhiều đoạn rất hẹp, sát với ngọn núi cao khổng lồ, làm mình có cảm tưởng như núi đi qua tàu của mình.

    Nhờ thời tiết tốt, HAL mở cưả ra các 'deck' để bà con thưởng ngoạn và họ có người thuyết trình, hay giải đáp thắc mắc, khi tàu qua những chỗ đặc biệt. Tàu đi từ sáng tới chiều mới ra hết Prince Christian Sound. Nhân đây cũng biết thêm Strait là eo biển hẹp và sâu, thường rất quan trọng về mặt chiến lược giữa hai vùng nước lớn, như Strait of Hormuz, Strait of Gibralta. Trong khi Sound / Sund là vịnh hẹp, là một lối vào, giữa đất liền và đảo như Puget Sound ở Washington, thường do băng hà mà có. Sund là cổ ngữ, sau này người ta dùng chữ Sound thường hơn. Strait hẹp và sâu hơn Sound.

    Diện tích của Greenland khoảng 1/4 so với diện tích của Hoa Kỳ, dân số chưa tới 60 ngàn dân, thủ đô là Nuuk và là thành phố lớn nhất với 20 ngàn dân, làng mạc, thành phố chỉ ở vùng ven biển, vào trong đất liền chút xíu thì toàn là tuyết đá vì 80% của đảo là 'ice sheet', sinh sống bằng nghề đánh cá. Greenland không có đường (road) nối các thành phố với nhau, nên họ di chuyển bằng máy bay hoặc tàu bè nếu cần đến những nơi khác trên đảo. Dân chúng đa số là người Eskimo, họ nói tiếng Greenlandic, HT có nói chuyện với một bà lão ở Qaqortok, nói được tiếng Anh chút đỉnh, trông hiền lành chất phát, bà giới thiệu với T xâu chuỗi bà làm để bán cho du khách.

    Những ngôi làng HAL ghé vào ở Greenland chưa tới ngàn người, những ngôi nhà đủ màu sắc nằm rải rác trên sườn đồi, đi bộ vài tiếng là hết phố, cảnh nơi đây rất yên bình. Rất may là tàu ghé được tất cả các bến này vì nhiều khi bị sương mù hay 'sea ice', tàu không vào được. Các bến ghé vào bằng 'tender' vì bến tàu nơi đây rất nhỏ.






    Hồi nào tới giờ T hiểu một cách rất mù mờ về chữ 'rare earth', nhân chuyến đi tới Greenland, HAL có những buổi 'Enrichment Talk' trên hội trường do các vị giáo sư đại học hay những nhà nghiên cứu chuyên môn giải thích về những nơi tàu ghé bến hay đi qua, nên HT được hiểu thêm về 'rare earth'. Các kim loại, khoáng chất mà người ta gọi là 'rare earth' không phải vì sự ít oi, khó kiếm ra trên trái đất này, mà có ở nhiều nơi trên trái đất, nhưng do chúng không tập trung thành các quặng mỏ lớn để dễ khai thác như sắt hay đồng. Trái lại, chúng phân tán mỏng trong đá và trộn lẫn với nhau đến mức để tách cái này ra khỏi cái kia phải qua nhiều giai đoạn khó khăn nên rất tốn kém. Thêm vào đó, những chất đào thải sau những công trình sản xuất 'rare earth' làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, Trung Hoa là nước đứng đầu trên thị trường quốc tế về 'rare earth'. Thống kê năm 2025, thế giới có 92 triệu tấn 'rare earth', Trung Hoa có 44 triệu tấn, Hoa Kỳ có 1.9 triệu, Greenland có khoảng 1.5 triệu tấn. Với thời đại mà kỹ thuật điện tử hiện diện khắp nơi trong đời sống con người, và 'rare earth' là thành phần nồng cốt để làm nên những công cụ này, đưa tới sự tranh giành sở hữu những vùng đất, quốc gia có nhiều 'rare earth'.

    ~ 0 ~
    Last edited by TrucLam; 4 weeks ago.

    Comment


    • #3
      Greenland và Iceland

      Tên gọi Iceland và Greenland đều gây hiểu lầm về mặt địa lý. Iceland không phải là miền đất băng giá, và Greenland cũng không phải là vùng đất tươi xanh mượt mà màu cỏ non. Nhưng do chúng xuất phát từ cách đặt tên thời Viking và trải nghiệm cá nhân.

      Tên gọi của Iceland lần đầu tiên được những nhà thám hiểm Na Uy định cư vào thế kỷ 9. Một trong những người Viking Na Uy đến vào mùa đông và bị ấn tượng bởi sự băng giá nơi đây, gia súc của ông bị chết đói, và ông phải bỏ đi với lời thề sẽ không bao giờ quay lại, và ông đã đặt tên nơi này là Ísland (“đất băng”). Tên này đã được giữ lại, mặc dù Iceland có nhiều đất đai canh tác và chỉ 1/10 diện tích của Iceland là bị băng phủ.

      Tên Greenland xuất hiện vào cuối thế kỷ 10 do Erik the Red, một người Na Uy bị trục xuất từ Iceland. Sau khi bị đày vì tội giết người, Erik đã đi thuyền về phía tây và tìm thấy một vùng đất màu mỡ ở bờ biển phía tây nam của Greenland. Ông đặt tên Greenland (đồng xanh) như một chiến lược quảng cáo, hy vọng cái tên này sẽ làm nơi đây trở nên hấp dẫn, thu hút người ta đến đây định cư. Vào thời điểm đó, một số khu vực của Greenland xanh tươi hơn ngày nay, và cái tên này đã có hiệu quả — phía tây nam vẫn là vùng dễ sinh sống nhất của Greenland.

      Tại sao tên lại có vẻ như “bị đảo ngược”?

      Iceland ấm hơn nhờ dòng hải lưu Gulf Stream, với những mùa hè tươi tốt và chỉ có một lớp băng mỏng.
      Greenland thì lạnh hơn nhiều, với khoảng 80% bề mặt bị bao phủ bởi băng tuyết.

      Cả hai cái tên đều phản ánh ấn tượng của những người khám phá lúc bấy giờ, chứ không phải toàn bộ bức tranh về vùng đất đó. Ngày nay, người Greenland gọi đất nước của họ là Kalaallit Nunaat (Land of the People), trong khi người Iceland vẫn dùng Ísland.

      Nói ngắn gọn:

      Iceland = được đặt tên bởi một khách du lịch không vui vào mùa đông, người đã nhìn thấy băng.
      Greenland = được đặt tên bởi một người định cư háo hức, người đã nhìn thấy những cánh đồng xanh và muốn thu hút người khác.
      ~ 0 ~​
      Last edited by TrucLam; 09-04-2026, 08:48 AM.

      Comment


      • #4
        Paamiut


        Sau một ngày đường biển từ Newfoundland (đọc là Noof’n-land: 2 syllables not 3) Canada, tàu bắt đầu vào Paamuit, một ngôi làng nhỏ của Greenland, với khoảng hơn ngàn dân. Trong tiếng Greenland, Paamiut có nghĩa là “người sống ở cửa sông” – do vị trí của làng ở cửa của vịnh Kuannersooq. Sáng hôm đó, gió lạnh, mưa phùn rả rít, sương mù dày đặc, không thấy bến bờ là đâu, tàu sẽ neo tại đây từ 10 giờ sáng tới 6 giờ chiều. Thường khi tàu neo là HT xuống bến sớm, nhưng hôm đó phải đợi đến sau giờ ăn trưa, trời mây quang đãng, mới theo 'tender' vô bến.

        HT lên 'view point' nhìn xuống làng, những ngôi nhà nhỏ bé nằm rải rác quanh sườn đồi đủ màu , xanh, đỏ, vàng..., Greenland nổi tiếng ở những ngôi nhà có màu sắc tươi sáng. Điều thú vị là về mặt lịch sử, những màu sắc này có một mục đích thực tiễn. Thưở xưa, nhà được sơn màu này hay màu kia, có ý nghiã của nó, để giúp cho những người đến từ biển hay trong mùa tuyết giá, có thể nhận diện những ngôi nhà quan trọng. Ví dụ, bệnh viện và nhà của bác sĩ thường màu vàng; vưạ cá thì màu xanh; nhà thờ và trường học sơn màu đỏ. Kiểu sơn nhà này giờ đây không còn dùng nữa, ngày nay chủ nhà có thể sơn bất kỳ màu nào họ thích.

        Bước vào làng là ngôi nhà thờ nhỏ mái dốc màu xanh lá cây, vách sơn màu đỏ nằm ở giưã làng, Fredens Kirke - Church of Peace. Bên cạnh nhà thờ là nghĩa trang. Đại dương đem đến thức ăn để con người được sinh tồn, nhưng cũng có thể lấy đi mạng người. Một số cây thánh giá ở đây tưởng nhớ những người, thường là ngư dân, đã mất tích trên biển. Nghĩa trang thường là nơi di thể người thân được an táng. Ở đây, bia mộ mang đến cho gia đình một nơi để nhớ đến những người đã ra đi và không bao giờ trở lại. Biển giúp xây dựng Paamiut, nhưng con người cũng phải trả một cái giá.

        Đi chút xiú là tới cây cầu bắc ngang con suối rộng. Môt tấm bảng nhỏ gắn trên cây cầu 'Paamiut Asasara' (My beloved Paamiut). 'Paamiut - quê hương mến yêu', có lẽ nó nói lên tình yêu quê của người dân nơi đây với mảnh đất của họ. Nó không là một khẩu hiệu du lịch mà là một cách thể hiện tình gắn bó với thôn làng bé nhỏ an bình, rất xa xôi với thế giới rộng lớn lao xao ngoài kia.

        Trẻ con người Eskimo có làn da sạm nâu rắn rỏi, tóc dầy và cứng, đạp xe chơi quanh bến cảng. Vài con lộ tráng nhựa, xe cộ thưa thớt vì ai nấy đi bộ là tới nơi mình muốn trong làng. Nơi bến tàu, họ có 'tour' đưa khách đi xem cá voi, băng hà, băng sơn. Chỉ cần vài tiếng là đi hết làng, nhưng không gian êm ả, khí trời mát lạnh nơi đây, cũng đủ đem đến cho HT một buổi chiều rất yên bình.

        ~ 0 ~


        Nanortalik


        Hôm sau, tàu tới làng kế bên Nanortalik, tàu đi len lỏi trong những khe núi với nước làn nước trong xanh, những ngọn núi tiếp nối nhau hình chữ U do băng hà bào mòn, mây núi giao nhau, cảnh đẹp tuyệt trần. Paamiut chào đón Zuiderdam với mưa lạnh, sương mù và gió rét thì bù lại Nanortalik tươi sáng với nắng đẹp chan hoà, và dường như ấm áp hơn. Những ngôi nhà đầy màu sắc tụ tập dọc theo bờ biển, phía sau là những dãy núi đá gồ ghề của miền Nam Greenland.

        Nanortalik là một trong những thị trấn cực nam của Greenland, một cộng đồng nhỏ nơi vùng hoang dã. Lúc này là mùa Hè nên hoa dại mọc đầy trên sườn đồi. HT thấy có khách sạn nhỏ, nhà thờ, chợ bán thực phẩm và đồ dùng tương tự như siêu thị ở Austin, có điều nó nhỏ hơn rất nhiều. Dân Greenland xài tiền Danish Krone (1 đô = 6.43 Danish Krone) vì nằm trong Vương quốc Đan Mạch nhưng có chính phủ riêng, du khách có thể trả tiền bằng 'credit card' rất tiện lợi. Phần lớn dân Greenland là người Eskimo, hôm đó HT nghe họ đàn hát những bài dân ca cho du khách thưởng thức. Nanortalik cũng cở ngàn dân như Paamiut, nhưng phố xá có vẻ rộng hơn.



        ~ 0 ~


        Tasermiut Fjord


        Bảy giờ tối, Zuiderdam rời Nanortalik, nhưng có một bất ngờ chờ đón, thay vì chỉ đơn giản đi đến 'port' tiếp theo. Theo gợi ý của thuyền trưởng địa phương trên tàu, Zuiderdam sẽ đi một lối vòng hiếm khi gặp, sâu vào Tasermiut Fjord. Thế là thuyền trưởng cho mở tất cả các 'deck' để khách trên tàu có thể ngắm nhìn cảnh tượng trước mắt. Fjord (đọc là phi-ord) là một vịnh dài, hẹp và sâu giữa những vách đá cao, là thung lũng bị băng hà bào mòn và nước biển tràn vào làm thành những vịnh hẹp. Phong cảnh trong các 'fjord' rất đẹp vì núi cao bao quanh, băng hà vắt vẻo trên núi, những thung lũng hình chữ U giữa các ngọn núi, suối rơi như lụa bạch, tơ trời từ trên núi cao xuống, làn nước trong xanh màu ngọc thạch do phấn cuả băng hà tan vào vịnh...



        Khoảng một tiếng sau khi rời Nanortalik, tàu tới cưả ngỏ của 'fjord'. Tasermiut Fjord là một trong những thắng cảnh nổi tiếng ở miền nam Greenland – một fjord dài được bao quanh bởi những ngọn núi hoa cương (granite) khổng lồ, khu vực này nổi tiếng với những người leo núi. Những vách đá đó dựng đứng gần như thẳng từ mặt nước, tạo ra phong cảnh khiến ngay cả một con tàu rất lớn cũng đột nhiên cảm thấy khá nhỏ bé. Tàu trôi từ từ. Zuiderdam thong thả đi sâu hơn vào 'fjord' qua làn nước xanh yên bình.



        ~ 0 ~


        Prins Christian Sund


        Có những ngày, đi du lịch là về những dự định bạn sẽ làm gì. Và có những ngày mà tất cả những gì bạn cần làm, chỉ là đứng yên và ngắm nhìn. Ngày tàu đi qua Prinz Christian Sund là một trong những ngày chỉ lặng thinh mà ngắm. Zuiderdam vào Sund lúc 7 giờ sáng, thuyền trưởng mở cưả ở các 'deck', để du khách ngắm cảnh tàu đi trước mặt. Trời lạnh, nhưng nắng tuyệt đẹp, một buổi sáng trong lành, với núi cao, nước xanh và băng hà, băng sơn quanh mình.

        Prins Christian Sund (tiếng Anh là Prince Christian Sound) là một tuyến đường gần mũi phía nam của Greenland. Thay vì đi vòng quanh bờ biển, tàu có thể đi qua một 'sund' tuyệt đẹp, bao quanh bởi núi non hiểm trở và băng hà. Khác với chuyến đi bất ngờ vào Tasermiut Fjord tối hôm trước, đây là một tuyến đường cho tàu thuyền di chuyển ở phía nam Greenland. Hôm đó, có chuyến cruise Viking đi phía ngược chiều với Zuiderdam.

        Sau khi tàu vào Prins Christian Sund, cảnh đẹp mở ra liên tục. Những vách đá nhô lên từ mặt nước. Núi non hiện ra nối tiếp nhau. Tuyết và băng bám trên những đỉnh núi cao, trong khi đó, làn nước trong 'sund' lại cực kỳ tĩnh lặng, cho khách thấy núi non soi bóng nước. Có những lúc, vừa trầm trồ cảnh này đẹp quá, là có cảnh đẹp khác tiếp nối ngay. Có không biết bao nhiêu khoảnh khắc như vậy. Có lẽ chính điều đó làm Prins Christian Sund khác biệt. Nó không phải là một điểm đến để tới, chụp hình, rồi đi. Con đường này chính là điểm đến.

        Không xa đó là Aappilattoq, một trong những ngôi làng rất nhỏ rải rác dọc bờ biển phía nam Greenland. Năm 2026, dân số của nơi này chỉ có 81 người. Không có đường nối các cộng đồng như Aappilattoq với phần còn lại của Greenland. Thuyền và trực thăng là nguồn sống, chở người, thực phẩm, thư từ và các vật dụng khác. Hôm đó, Zuiderdam đã mang đến làng món quà tiếp tế như rau củ, trái cây... Trong khi Zuiderdam chờ ở vịnh, tàu nhỏ (tender) chở thủy thủ đoàn hướng về khu định cư với khoảng một tấn quà.


        ~ 0 ~


        Qaqortok - Greenland


        Qaqortok: Đây là một ngôi làng gần với Paamiut và Nanortalik nhưng bận đi tàu không ghé qua, bận về mới ghé, nhưng HT gom vào chung với bài viết về Greenland. Tàu ghé bến này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều, bến nhỏ nên khách vô bờ bằng 'tender'. Qaqortoq nằm ở miền Nam Greenland, một làng nhỏ với những ngôi nhà đầy màu sắc tụ tập quanh một hải cảng xinh đẹp. Một lần nữa, chúng tôi thả neo ngoài khơi và dùng thuyền nhỏ vào thị trấn.

        'Port talk' nói về Stone & Man, nghệ thuật ngoài trời độc đáo ở Qaqortoq, và chẳng cần phải tìm đâu xa, những bức hình khắc trên đá xuất hiện gần như ngay đặt tại bờ.

        Lúc đi tàu nhỏ để vào làng, HT ngồi gần ông khách đã đến đây vài năm trước. Ông chỉ: Thấy cái đường dốc cao không? Qua khỏi dốc đó có cái hồ lớn, bạn có thể đi quanh hồ để ngắm cảnh (khoảng 10km). Lên bờ, HT có tới bờ hồ, nhưng sau đó chỉ đi loanh quanh trong phố chứ không đi quanh hồ. Có một cầu thang dốc ngược, nghe nói khoảng 150 bậc thang, lên đó ngắm toàn cảnh Qaqortok, HT đi lối đường dốc lên đó rồi xuống bằng cầu thang đỡ mệt hơn.

        Mấy ngôi làng Zuiderdam ghé vào Greenland đều có những căn nhà sơn màu tươi sáng, nhà thờ, suối... Ở Qaqortoq hôm đó, còn bị ruồi, muỗi bu vào người rất nhiều, có người 'research' trước nên họ mang theo loại nón có màn che mặt. Tuy vậy sau một hồi vừa đi vưà quơ thì cũng không đến nỗi nào.


        ~ 0 ~​
        Last edited by TrucLam; 3 weeks ago.

        Comment


        • #5
          Iceland



          Sau khi Zuiderdam rời Prinz Christian Sund, tàu đi thêm một ngày đường biển và tới thủ đô Reykjavik thuộc Iceland. Zuiderdam sẽ dừng bốn 'port' ở Iceland, bận đi dừng ở thủ đô Reykjavik hai ngày, bận về ở ba thị trấn nhỏ nằm phiá Bắc của Iceland. Reykjavik có nguồn gốc từ tiếng Bắc Âu cổ: reykur = smoke (khói) và vík = bay (vịnh). Reykjavík được gọi là Smokey Bay vì những người định cư Na Uy đầu tiên nhìn thấy hơi từ suối nước nóng ở Iceland như khói, và đặt tên cho vịnh theo đó, và tên này đã tồn tại trên ngàn năm nay.

          Cách đây bốn thập kỷ, nhờ sự thu xếp của thủ tướng Anh quốc bà Margaret Thatcher, tổng thống Reagan và Gorbachev gặp nhau tại Reykjavik để thương thuyết việc cắt giảm vũ khí nguyên tử từ hai phiá Nga Mỹ, bước đầu rất quan trọng để chấm dứt Chiến tranh Lạnh (The Cold War). Hôm đó HAL có buổi 'Enrichment Talk' nói về hai ông Reagan và Gorbachev và về chuyện này, rất thú vị.

          Vì tàu dừng ở Reykjavik hai ngày nên, ngày đầu sau khi tàu cập bến, HT đi tour Golden Circle. HT 'book tour' này qua 'Getyourguide' trước khi rời Mỹ, $99 một người, 150 dặm,10 tiếng, tour đón và chở mình về lại ở 'cruise port', nếu 'book' từ Zuiderdam $319/ người. Tour dừng bốn điểm chính: Kerid Volcanic Crater, Geysir, Gullfoss (the Golden Waterfall) và Lâm viên quốc gia Thingvellir.

          Kerid Volcanic Crater là một hồ nước xanh của miệng núi lửa khi xưa mang màu đỏ nâu rất đẹp, là một trong những thắng cảnh địa chất ở Iceland. HT có một tiếng ở đây, bạn có thể đi vòng quanh trên miệng núi lửa và xuống hồ bên dưới.

          Sau đó, tour chở tới khu Geysir, có hơn hai tiếng nơi đây, nên HT ăn trưa món Fish and Chips cho nhanh gọn, rồi đi coi Geysir (suối phun nước nóng) Nếu bạn đã từng đến 'geyser' ở Yellowstone thì 'Geysir' nơi đây không thấm thiá gì, giống như 'tiểu học' so với 'đại học' vậy. Chỉ có vài 'geyser' và cứ vài phút là phun một lần rồi hết, nên thiên hạ cứ mở máy quay phim để chờ chứ máy chụp hình thì đừng mong vì không biết khi nào nó phụt nước lên, chỉ vài giây là xong. Tuy vậy đây là khu vực rộng lớn, bạn có thể lên đồi cao để ngắm cảnh suối phun bên dưới.

          Gull=Golden Foss=Waterfalls. Gullfoss có nghiã là Thác Vàng. Tùy theo ánh sáng, mặt nước đôi khi lấp lánh màu vàng nhờ trầm tích của băng hà trong thác nên mới có tên là Golden Falls. Lúc HT tới thác, gió và mưa phùn cuốn lớp sương mù thành những xoáy tròn. Bạn có thể theo đường mòn xuống gần thác, có điều gió to thiếu điều muốn thổi mình bay đi, và trời trưa đó rất lạnh.

          Điểm dừng chân cuối cùng trên 'Golden Circle' - có lẽ là quan trọng nhất về mặt địa chất lẫn lịch sử là công viên quốc gia Thingvellir, là nơi hai lục điạ Châu Âu và Bắc Mỹ tách ra làm hai. Dọc theo phần lớn hẻm núi Almannagja có một con đường lát đá để bạn đi giữa hai lục địa.

          Thingvellir còn có Kẽ nứt Silfra, một địa điểm lặn và bơi nổi tiếng thế giới với làn nước băng tinh khiết được lọc qua đá nham thạch trong nhiều thập kỷ. Cảnh quan của công viên bao gồm các cánh đồng dung nham, vách đá, và hồ lớn nhất Iceland.

          Thingvellir không chỉ nổi tiếng về địa chất. Đây còn là nơi khai sinh của nền dân chủ Iceland. 'Althing', một trong những quốc hội lâu đời nhất thế giới, đã được thành lập ở đây vào năm 930 sau Công nguyên và những người đại diện cho Iceland tiếp tục họp ở đó cho đến năm 1798. Sau đó, 'Althing' được chuyển đến Reykjavik.

          Trong chuyến đi Âu châu hồi 2022, tàu Princess có ghé tới Iceland và Reykjavik, HT đã đi vào phố bằng free shuttle, kỳ này HAL tính tiền shuttle 20$/người.

          Trên đường về Zuiderdam ghé bến Seydisfjordur, cũng là bến HT có ghé qua rồi, phố nhỏ nhưng đẹp và yên bình, bạn có thể leo lên thác nước gần bên phố hay mua tour trước để đi tới thác xa hơn và coi loài chim Puffin - một loài chim biễn có lông đen trắng và chiếc mỏ màu đỏ cam rất đẹp.

          Husavik nằm về phiá Bắc của Iceland, tàu neo ngoài khơi, và khách vào bờ bằng tàu nhỏ. Bà con lấy tour đi coi cá voi rần trời. HT chỉ đi loanh quanh trong phố mà thôi. Anh H nói đi vô bến để lấy hơi đất.

          Bến cuối cùng ở Iceland là Grundarfjordur, bến này HT có ghé qua khi đi cruise với Princess hồi 2022. Kỳ này không bị mưa gió sụt sùi như lần trước nên hình chụp núi Church Mountain phản chiếu dưới nước rất đẹp. Từ bến cảng bạn có thể đi bộ tới Church Mountain (2 miles), hay họ có shuttle $20/ người và chỉ xài được một lần, hơi mắc.
          ~ 0 ~​
          Last edited by TrucLam; 3 weeks ago.

          Comment


          • #6
            Eidfjord - Na Uy (Norway)




            Sau Iceland, Zuiderdam sẽ mất hai ngày đường biển để băng qua North Atlantic Ocean và cập bến Eidford - Na Uy.

            Nhân đến Na Uy, HT nghe nói về Oil Fund tức Quỹ Dầu Mỏ là một trong những chương trình kinh tế thành công nhất thế giới - dùng tài nguyên thiên nhiên từ mỏ dầu trời cho, đầu tư một cách khôn ngoan để tạo ra môt quỹ hưu bổng cho mọi người dân và cho những thế hệ mai sau mà quỹ không bao giờ cạn ngay cả khi dầu mỏ đã cạn. Có thể nói Oil Fund của Na Uy là vì dân và của dân.

            Na Uy là một quốc gia nhỏ ở vùng Bắc Âu với dân số khoảng 5 triệu người, nổi tiếng với thiên nhiên tuyệt đẹp, mức sống cao và hệ thống phúc lợi xã hội vững vàng. Na Uy thường được coi là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới mà phần lớn tài sản là từ Quỹ Dầu mỏ (Oil Fund) mà có, hay còn được gọi là Quỹ Hưu trí Chính phủ Toàn cầu (Government Pension Fund Global). Đây là quỹ tài sản có chủ quyền lớn nhất trên toàn cầu, được xây dựng từ doanh thu dầu mỏ và để dùng cho các thế hệ tương lai.

            Vào cuối thập niên 1960, Na Uy kiếm được những giếng dầu ngoài khơi. Thay vì để các công ty tư nhân thu hết lợi nhuận, chính phủ đã nắm giữ một phần lớn cổ phần và đánh thuế nặng vào việc khai thác dầu. Không giống nhiều nước giàu tài nguyên, dùng lợi nhuận từ dầu hoả để tiêu xài, Na Uy lên kế hoạch cho tương lai lâu dài cho dân của họ.

            Na Uy quy định chính phủ chỉ có thể chi khoảng 3% giá trị của quỹ mỗi năm. Phần còn lại được đem đầu tư và giữ lại trong quỹ. Điều này nhằm ngăn chặn việc chi tiêu quá tay và để bảo vệ quỹ cho các thế hệ tương lai.

            Oil Fund được dùng cho các Dịch vụ công cộng: y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng. Chương trình phúc lợi: Lương hưu, trợ cấp thất nghiệp. Ổn định ngân sách: Giúp Na Uy tránh những cuộc khủng hoãn kinh tế. Quỹ hoạt động như là quỹ tiết kiệm quốc gia: lớn, ổn định và được thiết kế để tồn tại mãi mãi. Tính ra mỗi người dân Na Uy có khoảng 400,000USD trong quỹ.

            Eidfjord là một thị trấn nhỏ của Na Uy, HT lấy tour đi coi thác nước Vøringfossen Waterfall từ Viator, $99 một người, 4 tiếng, mua trước ngày rời Mỹ. Đường đi đến thác qua đèo, các đường hầm (tunnels), cảnh núi đồi rất đẹp, có điều khi tới nơi thì sương mù dày đặc, khoảng một giờ sau mới thấy được thác. Phố xá ở Eidfjord nhỏ nhưng yên bình, vưà có núi cao hùng vĩ vừa có nét duyên dáng của miền quê.

            Buổi chiều, trên đường ra khỏi Eidfjord, tàu đi trên vịnh hẹp Hardangerfjord (tiếng Anh: Hardanger Fjord) với phong cảnh tuyệt đẹp. Đây là 'fjord' dài thứ năm trên thế giới và dài thứ hai ở Na Uy. Hardengefjord dài 180 km (110 dặm) từ Đại Tây Dương vào vùng núi sâu bên trong. Na Uy là xứ có rất nhiều vịnh hẹp và đẹp nổi tiếng thế giới.​
            ~ 0 ~​
            Last edited by TrucLam; 3 weeks ago.

            Comment


            • #7
              Rotterdam



              Vào cuối thế kỷ 19, Holland America Line (HAL) được thành lập tại Rotterdam, Hoà Lan. Lúc đó, HAL có nhiều tàu để chở khách và hàng hoá xuyên Đại Tây Dương, và HAL dùng chữ “dam” để đặt tên những chiếc tàu này dựa trên điạ danh, địa lý và ngôn ngữ của Hoà Lan. Trong tiếng Hoà Lan, 'dam' nghĩa đen là đê, bờ kè hoặc đập giữ nước. Nhiều thành phố và thị trấn ở Hoà Lan có chữ 'dam' (đập nước) trong tên, ví dụ: Amsterdam = đập trong sông Amstel, Rotterdam = đập trong sông Rotte, Zaandam = đập trong sông Zaan, và Rijndam = dam trong sông Rhine. Hay có khi kết hợp chữ để chỉ phương hướng hoặc mô tả với 'dam'. Oosterdam = Đê Đông, Noordam = Đê Bắc' Zuiderdam = Đê Nam. Volendam là tên một làng đánh cá, không có đập nước ở đó.

              Rời Na Uy, tàu tới Hòa Lan và sẽ neo qua đêm ở bến Rotterdam. Rotterdam là thành phố lớn của Hòa Lan và là bản doanh lâu đời của Holland America Line. Cách bến tàu chưa tới hai dặm là MS Rotterdam, chuyến 'cruise' khi xưa giờ làm nơi để du khách đến coi như một viện bảo tàng của HAL. Kế bên bến tàu có cây cầu để đi vô phố hay bạn có thể đi 'tram' hoặc 'subway', để tới các 'landmark' gần đó.

              Rotterdam bị tiêu huỷ gần như hoàn toàn trong Thế chiến thứ Hai nên sau khi chiến tranh tàn, dân Hòa Lan xây dựng lại Rotterdam như một thành phố hiện đại tân thời. Trong phố có Toà đô chánh, khu Markal, The Cubes, nhà thờ lớn... Cũng có nhiều tiệm ăn VN, tiệm phở. Sau khi vô phố, HT đi bộ về tàu, trên đường về tính ghé tiệm phở ăn trưa, nhưng không may, hôm đó tiệm phở đóng cửa, nên đành về tàu ăn 'buffet' tiếp.

              Từ Rotterdam bạn có thể đi xe lưả tới vài thành phố khác gần đó như Amsterdam, The Hague, Delft... để 'sightseeing'. Amsterdam hơi xa, đi xe lửa gần hai tiếng mới tới, còn The Hague, Delft gần hơn khoảng một tiếng xe lưả.



              ~ 0 ~
              Isle of Man



              Isle of Man là một hòn đảo nhỏ nằm giữa England và Ireland, lãnh thổ thuộc Hoàng gia Anh nhưng có quốc hội, luật pháp riêng. Đây là đảo của nhà giàu vì khi tàu đến gần đảo đã thấy những toà nhà khang trang dọc theo ven biển. Anh H nói cho T biết về những cuộc đua xe gắn máy Isle of Man TT nổi tiếng (motorcycle), và anh em ban nhạc Bee Gees có dây mơ rễ má với Isle of Man, chứ T không biết chút chẹo gì về hòn đảo này.

              Zuiderdam neo ngoài khơi và HT đi 'tender' vô thủ đô Douglas của Isle of Man. Ra khỏi 'cruise terminal' là con đường dọc theo biển (Douglas Promenade) rộng rãi, khang trang, sạch sẽ, toàn khách sạn hàng quán hạng sang dọc bên đường. Sáng nay trời nhiều mây nên đỡ cảnh chói chan và gió biển mát rượi quanh mình.

              Tượng của nhóm Bee Gees trên 'promenade' nên HT chụp tấm hình. Các anh em Barry, Maurice và Robin Gibb sinh ra ở Isle of Man, lớn lên qua Úc sống một thời gian, rồi trở về Anh quốc. Họ là ban nhạc gia đình, nổi tiếng vào thập niên 60s, 70s... Ba bức tượng bằng đồng cao 7 ft là hình ảnh Barry, Maurice và Robin Gibb, người tạc tượng lấy cảm hứng từ bản nhạc 'Staying Alive' của Bee Gees. Tên gọi Bee Gees xuất phát từ một sự hợp tác ban đầu giữa các anh em nhà Gibb và hai người bạn, và nó đã qua một vài thay đổi, trước khi thành Bee Gees mà chúng ta biết ngày nay.

              Khi Barry, Robin và Maurice Gibb chuyển đến Úc vào năm 1958, họ bắt đầu trình diễn cùng các bạn mình là Bill Goode và Bill Gates (không phải Bill Gates của Microsoft). Tên ban đầu của nhóm là The BG’s, được tạo từ chữ cái đầu (initial) của ba người: Barry Gibb, Bill Goode và Bill Gates. Vì BGs được phát âm như 'Bee Gees', một cái tên vui nhộn, dễ nhớ và cũng được hiểu như là viết tắt của các anh em Gibb. Sự thay đổi này diễn ra vài năm sau khi nhóm được thành lập, và cái tên này được giữ nguyên khi họ nổi tiếng ở Úc và sau đó trên toàn thế giới.

              Bee Gees có nhiều nhạc phẩm mà HT rất thích như: First Of May, I Started A Jokes, How Deep Is Your Love, Massachusetts... Còn bạn, bạn thích những bản nhạc nào cuả Bee Gees?


              ~0~


              Belfast



              Belfast là thủ đô của Bắc Ái Nhỉ Lan (Northern Ireland). Bến cảng nơi đây rất tiện cho việc đóng tàu. Cách đây hơn thế kỷ, tàu Titanic đã được đóng ở Belfast. HT ghé qua Belfast trong chuyến đi Scotland và Ireland hôm mùa Xuân vừa rồi. Kỳ này, tới những chỗ mà trước kia không có giờ tới. Từ bến tàu đi shuttle vào phố mất hai chục đô. Xe dừng gần City Hall, HT đi bộ tới Queen's University Belfast, trường có kiến trúc như lâu đài rất đẹp. Tiếc là ngày thứ Bảy nên không có guided tour, HT chỉ đi loanh quanh các campus chứ không vô được những đại sảnh hay thư viện của trường. Gần đó có một trường trung học nội trú nhà giàu, HT xin vô coi, campus rất bề thế. Vòng quanh khu này có viện bảo tàng và Botanic garden.

              Buổi trưa trở lại City Hall, lấy tour ở đó và coi vài landmark quanh vùng trước khi đi shuttle về tàu. Lần ghé trước có ngủ đêm ở Belfast, khách sạn gần City Hall, buổi tối nơi đây lên đèn rất đẹp.

              ~ 0 ~



              Sau Belfast - Bắc Ái Nhỉ Lan, tàu đi về Iceland, ghé Seydisfjordur, Husavik và Grundarfjordur T đã ghi trong đoạn viết về Iceland. Buổi trưa sau khi rời bến cuối cùng của Iceland, thuyền trưởng đưa tàu vào vùng mà chút nưã có hiện tượng Nhật thực toàn phần. Nhân viên trên tàu để ghế ra sàn ở deck 4 và deck 9 để khách ngồi coi Nhật thực. Nhật thực bắt đầu khoảng hai tiếng và mặt trăng sẽ che mặt trời dần dần cho tới khi toàn phần chỉ kéo dài có hai phút. Sau đó hé sáng phần đã che và che tiếp nưả phần còn lại cuả mặt trời cũng kéo dài hai tiếng. Tổng cộng Nhật thực kéo dài bốn tiếng tất cả, nhưng chỉ có hai phút là toàn phần.

              HT thấy deck 9 ở cuối tàu đã đầy người, nên xuống deck 4 ở đầu tàu, không còn ghế trống, nên tìm chỗ đứng cho khuất gió vì rất lạnh. Xui xẻo trưa đó trời đầy mây âm u nên khó chụp được hình đẹp. Lúc Nhật thực toàn phần bắt đầu, trời từ sáng mờ mờ chợt tối thui, rồi chỉ hai phút sau, nơi chân trời lóe lên một đường ánh sáng đỏ ao như buổi bình minh, và trời bắt đầu sáng mờ mờ trở lại, kéo dài thêm hai tiếng nưã thì xong Nhật thực.

              Phần còn lại của chuyến 'cruise' là những bến của Greenland và Canada mà khi đi tàu chưa ghé tới. Vì nằm về phiá Bắc khá xa nên những thị trấn này nhỏ lắm, chỉ tới Halifax thì tàu mới cập bến được. Những ngày trong chuyến cruise này, hầu như ngày nào cũng nón và jacket vì trời rất lạnh, trong khi con của T ở nhà kêu rên Texas nóng hơn 100F. Halifax thì HT đã ghé trong những chuyến cruise trước đây nên chỉ lên bờ đi quanh phố để lấy hơi đất. Gần bến tàu có hai tiệm phở, một tiệm rất đông nên HT tới tiệm ít khách hơn, có dịp nói chuyện với chủ tiệm. Gia đình hồi xưa đi vượt biên được Canada cho định cư ở Halifax và ở đây tới giờ hơn bốn chục năm. Tiệm phở mới mở gần chục năm nay thôi. Người cha đã mất cách đây vài năm, nên cậu con trai coi tiệm phở phụ mẹ. Cậu tới Canada lúc có hai tuổi, giờ đã gần năm chục.
              ~ 0 ~



              Ngoài những thắng cảnh trong hải trình có vài điều làm HT nhớ trong chuyến đi vưà rồi của mình.


              Người lớn tuổi nhất trên tàu là bà khách 101 tuổi, sau chuyến này bà sẽ đi World Cruise 120 ngày.

              Ăn ở Lido có những lúc không có bàn để mình được ngồi riêng rẻ hai vợ chồng, nên thỉnh thoảng mình ngồi chung với người khác hay thấy người ta kiếm bàn thì mình để người ta ngồi chung và có dịp nói chuyện với nhau. Một hôm kia, có cặp vợ chồng tới ngồi ăn chung với HT. Hai người đơm hai diã bánh ngọt bành ky, ăn coi khoái lắm, rồi bà nhắc ông, ông nhắc bà lấy chút thức ăn để ăn trưa. HT ngạc nhiên hỏi: 'Ông bà ăn bánh rồi mới ăn cơm hả?' Hai người nói: ' Trưa nay, họ có quầy bánh đặc biệt, gồm nhiều bánh decor rất đẹp nên ăn thử. Nếu ăn cơm trước rồi còn bụng đâu mà thử hết mớ bánh này.' Hỏi ra mới biết ông bà tuổi đã 80, xưa kia là giáo sư trung học nghỉ hưu cách đây mấy chục năm, lúc 52 tuổi. Sau khi con của ông bà học xong đại học, đi làm và ở riêng, họ bán nhà, mua chiếc RV đi đó đây trong nước Mỹ, Canada... trong 15 năm. Sau đó, bán RV mua chiếc tàu nhỏ sống trên tàu thêm 10 năm, 'sailing' loanh quanh nước Mỹ. Mỗi nơi họ ở chừng vài tuần hay vài tháng, có khi làm thiện nguyện bù lại có chỗ ăn, ở miễn phí. Họ nói chuyện vui vẻ hoạt bát, coi khoẻ mạnh và yêu đời lắm, nhìn khoảng chừng 70, chứ không nghĩ đã 80 tuổi. Họ kể, cô con gái nói ông bà đã già mà đi lung tung cô không an tâm, nên cách đây vài năm, có căn nhà cũ gần nhà cô con gái rao bán, họ mua rồi sửa sang lại để ở, mới xong cách đây vài tháng. Giờ họ bắt đầu đi 'cruise' thử, đây là chuyến 'cruise' thứ nhì của họ.

              Trong các chuyến cruise, HT thường gặp những câu hỏi như: Bạn từ đâu tới? Bằng cách nào bạn tới được Mỹ? Tốn bao nhiêu tiền? Bạn có thân nhân nào ở Mỹ không? Và tuỳ theo sự trả lời của mình mà nó có thể dẫn tới những câu hỏi khác đôi khi gợi nhớ lại phần đời của mình cách đây hơn bốn thập kỷ.

              Có một tối, sau khi ăn, chị Thu quen trên tàu tới bàn ngồi nói chuyện. Chị Thu đã 70, qua Mỹ được 16 năm. Khi còn ở VN chị làm hướng dẫn viên du lịch và gặp ông Bill nay 80 tuổi, lập gia đình với ông, bảo lãnh được các con của chị qua Mỹ. Chị hỏi thăm gia cảnh của HT. Chị nói đi trước có nhiều thuận lợi, nhưng T nói: 'Nếu trời cho em đi Mỹ bằng máy bay dù đi qua sau, em cũng muốn đi bằng máy bay chứ không muốn đi vượt biên bằng ghe đâu. Cứ mỗi lần đứng trên 'cruise' em nhớ tới chiếc ghe mình đi giưã biển cả mênh mông mà rùng mình. May là tới được bờ. Rồi những ngày ở trại tị nạn, họ đưa mình đi đâu, mình đi đó, không biết bao giờ được đi định cư. Lúc ở Indonesia gần một năm, không còn phái đoàn vô trại nưã vì đó là trại chuyển tiếp, họ chuyển mình tới đó vì Thái Lan đóng cưả các trại tị nạn. Nếu hồ sơ mình bị thất lạc thì chắc ở trại muôn năm bởi không có ai để kêu.'

              Vài hôm sau, trong chuyến 'tender' vào bờ, HT nói chuyện với vợ chồng người Mỹ. Ông chồng trước có đi lính ở VN đóng quân ở Biên Hòa, và có biết qua về người Việt tị nạn. Bà vợ hỏi T về chuyến vượt biển. T nói: 'Bà cứ tưởng tượng, không cần lên ghe vì ghe tôi đi nhỏ lắm, chắc không có ở Mỹ, ghe cứ lềnh bềnh trôi theo dòng nước vì nó chết máy sau ngày đầu ra khơi. Hay có hôm nào đó, bà ra một bãi biển, ngồi đứng một chỗ đó thôi, không mái che, không 'toilet', không một hạt cơm, chút nước cho đỡ khát, có ngày biển êm, cũng có những chiều sóng lớn, như chiếc lá giưã dòng, bảy ngày như vậy.'

              Cô Wendy người Tàu đi theo diện di dân do được người nhà bảo lãnh, thắc mắc làm sao Mỹ biết ai tốt ai xấu mà cho định cư. T nói: 'Mỹ chỉ dưạ vào lời khai về lý lịch của người xin đi tị nạn, vì như HT khi vượt biên tới Thái Lan, hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân. Họ tin vào sự thành thật của mình. Và theo HT nghĩ - trên tất cả - họ cho mình được định cư trên xứ họ, vì lý do nhân đạo (humanity). Cô Wendy lúc mới qua Mỹ ở trong khu có nhiều người tị nạn Việt Miên Lào nên cô biết vụ hải tặc. T nói: 'Trong chuyến cruise đi Antartica, có gặp người Việt tị nạn trên đường vượt biển bị hải tặc chở vào Ko Kra, và khi ở trại tị nạn, T có quen một chị bị cướp biển đưa vào đảo đó, họ coi đó là một quãng đời không may của mình. Riêng HT, khi ghe lạc vào một hòn đảo ngoài khơi Vịnh Thái Lan, được người Thái cho cơm ăn áo mặc, và giúp đưa vào đất liền, vì ghe mình đã bị chìm. HT rất cám ơn lòng tốt của họ. Đất nước nào, dân tộc nào cũng có người tốt kẻ xấu. Một năm rưỡi lêu bêu ở các trại tị nạn, biết được nhiều hoàn cảnh bi đát, T thấy mình may mắn hơn nhiều người.

              Vài dòng với bạn đọc về chuyến đi Greenland. Chúc các bạn luôn vui khỏe.





              ~ 0 ~
              Last edited by TrucLam; 1 week ago.

              Comment

              Working...
              X