Greenland Cruise 2026
HT rất tiếc chưa post được hình để minh họa cho bài viết vì 'error' khi post tuy đã thử qua nhiều cách.
Bạn đọc thân mến,
Từ giữa tháng Bảy tới cuối tháng Tám 2026 vừa qua, HT có chuyến đi Legendary Cruise 'Voyage of the Vikings: 35-Day Solar Eclipse Cruise', 35 ngày 'roundtrip' từ Boston - Massachusetts, với hãng HAL (Holland America Line) tới miền Đông Bắc của Canada, Greenland, Iceland, Norway, và UK, nhưng phần chính của chuyến đi là Greenland - hải đảo lớn nhất trên trái đất này, cũng là nơi thưa người ở nhất vì nó gần tuốt trên Bắc Cực, giá lạnh quanh năm. Chuyến này Zuiderdam dừng ở Rekjavik - Iceland và Rotterdam - Holland, mỗi nơi hai đêm.
Từ Austin - Texas, HT lấy chuyến bay đến Boston và ở đó vài hôm trước khi đi 'cruise'. Boston thì đã ghé đến vài lần, kỳ này vẫn ở hostel Boston vì khách sạn trong trung tâm thành phố rất mắc. Từ phi trường, bạn lấy 'Silver Line 1' là chuyến xe bus đi từ phi trường tới 'city center' và trạm cuối là 'South Station', bận vô phố 'free', bận ra thì trả tiền. Các chuyến 'metro' hay bus ở Boston trả bằng 'credit card' nên rất tiện lợi.
Đối diện với HI Boston Hostel là tiệm phở Pasteur và tiệm bánh mì Hương Quê, HT thường ghé qua mua bánh mì và cà phê sửa đá, rất ngon, 8 đô, rẻ hơn ở Austin! Bà chủ quán chỉ đường tới khu VN nhưng HT chưa có dịp để tới đó.
Kỳ này HT lấy 'subway' tới trường đại học danh tiếng MIT (Massachusetts Institute of Technology), họ có 'free tour', nên biết thêm nhiều điều lý thú về học trình của MIT, năm nay sinh viên ban Cử nhân 4,500, còn ban Cao học 6,500 (40% undergrade, 60% grad), học vấn miễn phí cho gia đình có lợi tức dưới hai trăm ngàn. Các phân khoa ở MIT thiên về các ngành Kỹ thuât, Khoa học, Toán, Lý, Hóa, Điện, Điện tử , Kinh tế ... 'Motto' của MIT tiếng Latin là Mens et Manus, tiếng Anh là Mind and Hands. Thưở ban đầu, trường chú trọng việc giảng dạy trong phòng thí nghiệm, dưạ trên mô hình viện đại học bách khoa ở Âu châu (polytechnic university), để đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hoá thuở ban đầu của Hoa Kỳ. MIT thành lập chỉ được vài ngày thì cuộc Nội chiến ở Mỹ bùng nổ (Civil War 1861), thế nên bốn năm sau, khi Nội chiến chấm dứt trường mới mở được lớp đầu tiên vào năm 1865. Các 'campus' của MIT không có những kiến trúc cổ xưa như HT thấy ở Yale, Columbia, hay Harvard..., trái lại các 'building' trông rất hiện đại.
HT cũng ghé tới BC (Boston College) là một đại học tư thục công giáo danh tiếng của Mỹ, thuộc Dòng Tên (Society of Jesus (Jesuits)). BC được thành lập cách đây khoảng 150 năm, chuyên về nghiên cứu. Trường có kiến trúc 'gothic' giống nhà thờ vì là trường công giáo.
Sáng ngày đi 'cruise', HT trả phòng cho HI Boston Hostel và lấy Uber ra bến cảng và tới phòng lúc vưà vặn giờ ăn trưa ở Lido. Zuiderdam thì đã có lần đi chuyến cruise ở Panama Canal cách đây chục năm. Chuyến này, tàu có 1,900 khách, Mỹ chiếm 1,800, Canada: 93 người, Úc: 34 người. Zuiderdam chưá maximum 2,300 khách, nên coi như gần đầy tàu. Phần lớn là người da trắng (>80%), vài cặp da đen, vài chục cặp Á Đông, tuổi 60-70, hầu hết đã hưu trí. HT gặp được vài gia đình VN nhưng không có dịp ăn chung vì họ ăn trên MDR. Gia đình chị Trâm, anh Trí và vợ là Laurie ở Little Sài Gòn qua Mỹ hồi 1975. Anh Đường và vợ người Phi ở San Diego qua Mỹ du học 1972. Chị Thu và chồng Mỹ là Bill ở Detroit - Illinois. Nghe nói có chị Lan và chồng Mỹ là dân ở Austin - Texas mà HT không gặp được dù chuyến đi dài năm tuần, âu cũng là cái duyên. Tất cả đã nghỉ hưu và thuộc hàng 'elite' vì họ đi cruise rất nhiều từ 30 năm nay!
Tàu có 'promenade' ở deck 3, HT ở deck 4 (4148) 'inside stateroom', phòng nhỏ nhưng có đủ mọi thứ cho mình cần, gần cuối tàu, rất tiện. Theo thuyền trưởng thì từ giờ về sau, HAL sẽ không mở phòng giặt sấy trên các chuyến 'cruise' cho khách dùng nưã. Chẳng sao. HT tự giặt đồ mình trong phòng.
Thức ăn thì tương tự như những chuyến 'cruise' khác. HT không ghi tên ăn trên Main Dining Room, nhưng có hai tối ăn trên đó do cặp vợ chồng Mỹ-Hoa quen trên tàu rủ lên đó ăn với họ để nói chuyện cho vui, còn lại toàn ăn ở Lido vì mình muốn ăn lúc nào, ngồi đâu, cũng được. Bánh ngọt và 'cookies' HAL không ngon bằng Princess. Thức ăn HAL múc cho khách, chứ không để mình tự lấy. HT ăn theo kiểu của mình giống ở nhà nên không bị ớn, chỉ thèm canh sau bữa ăn. Thế nên hôm nào, T thấy quầy 'Asian' có nồi nước lèo là vui lắm, kêu họ bỏ rau cải vào tô, xào cho nóng rồi chế 'miso soup' hay 'chicken broth' vào tô hay cho thêm một ít 'ramen', cơm là khỏe re!
HAL có 'show' trên 'World Stage' lúc 6:30pm và 8pm. Các chương trình ca vũ nhạc, kể chuyện vui, ảo thuật... đều hay nên tối nào cũng coi. Ban ngày, những hôm tàu 'at sea', HAL có nhiều chương trình 'Enrichment Talk', 'Port Talk', 'A Day in the Life of a Crew', 'Tech Traveler'..., với nhiều đề tài thú vị nên HT thường phải lên hội trường giữ chỗ trước cả nửa tiếng vì nếu tới trễ sẽ không còn chỗ ngồi.
Đôi lúc có dịp nói chuyện với những người làm trên tàu mới biết nhân viên làm ở Lido như 'food service', 'waitstaff', họ làm 10-12 tiếng một ngày và ngày nào cũng làm (7 days a week), vậy mà lúc nào cũng tươi cười, nhã nhặn với khách. Họ nói với HT: 'Every day is Monday.' Những hôm tàu cặp bến (at port), họ có vài giờ để ra phố nếu cần, và thay phiên nhau, còn lại họ nói ở lại trên tàu để ngủ cho khỏe. Người làm phòng thì hai người được giao khoảng 20 phòng, ngày làm hai lần, sáng chiều. HT nói họ làm ngày một lần cho phòng mình, hôm nào thấy họ bận quá thì T nói khỏi làm phòng cho mình. Nhân viên trên tàu có hai nhóm chính là 'staff' và 'crew', từ nhiều quốc gia khác nhau. HT thấy HAL và Princess thường mướn người Nam Dương hay Phi luật Tân làm việc trên tàu. HT học được vài tiếng chào hỏi từ hai nhóm người này:
Nam Dương (Indonesia): Hello: Halo, Goodbye: Dadah (đa-đà), Thank you: Terima Kasih: Tri-má ca-xi, You're welcome: sama-sama
Phi luật Tân (Filipino): Hello: Kamusta, Good morning / Beautiful morning: Magandang Umaga, Thank you: Salamat
~ 0 ~
Comment